Những bài văn hay lớp 11

[Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

[Văn mẫu bất hủ] của Hàn Mặc Tử

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

+ Đôi nét về tác giả: Hàn Mặc Tử nhà thơ tài hoa, bạc mệnh. Làm thơ từ lúc 14,15 tuổi..thơ Hàn Mặc Tử thể hiện đau đớn nhưng vẫn hướng về cuộc đời trần thế.

+ Tác phẩm: sáng tác 1938, cảm hứng từ tình yêu của tác giả.

2. Thân bài:

Khổ thơ đầu:

+ Câu hỏi hờn trách của ai đó àlàm gợi lên nổi nhớ của tác giả về thôn Vĩ.

+ Cảnh làng quê thôn Vĩ hiện lên đẹp bình dị, thôn Vĩ đôn hậu, hiền lành: nhà thơ cảm thán trước cảnh đẹp “mướt quá”

Khổ thơ thứ hai:

+ Nỗi buồn của sự chia ly, ngăn cách: lối gió, đường mây; cảnh vật cũng buồn theo lòng người: dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

+ Mong mỏi, khát khao của nhà thơ, muốn được về thôn Vĩ ngay trong đêm: “kịp tối nay”

+ Thể hiện luyến tiếc, đau thương của nhà thơ khi không thể về: khách lên thuyền là ánh trăng.

Khổ thơ cuối

+ Nỗi đau làm mọi thứ trở nên mơ hồ, mặc cảm tự ti của nhà thơ: qua hình ảnh “khách đường xa”..

+ Những từ ngữ diễn tả sự mơ hồ: “mơ”, “khách đường xa”, “trắng quá”, “nhìn không ra”, “sương khói”, “mờ”.

+ Hoài nghi về tình cảm của người con gái Vĩ Dạ: “ai biết tình ai có đậm đà?”.

3. Kết bài

+ Đút kết lại giá trị nghệ thuật của bài thơ: tả vẻ đẹp của thôn Vĩ và nỗi đau thương của tác giả.

+ Bút pháp tài tình của nhà thơ: tượng trưng, tả thực, lãng mạn và trữ tình.

phan tich bai tho day thon vi da - [Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Bài văn tham khảo

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa nhưng bạc mệnh, cuộc đời nhiều bi thương song nhà thơ là một cây bút có sức sáng tạo mạnh mẽ trong phong trào thơ Mới. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14,15 tuổi, bắt đầu với thơ Đường luật sau chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng thơ mới lãng mạn. Qua diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy được một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế. là bài thơ được nhận xét là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam . Đây thôn Vĩ Dạ được lấy cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử và một cô gái thôn Vĩ, một thôn nhỏ bên Hương của nơi xứ Huế mộng mơ và trữ tình.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Thề non nước của Tản Đà

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Khổ thơ bắt đầu với một câu hỏi, không biết được đây là câu hỏi của ai, là của chính nhà thơ đang tự hỏi mình hay người thôn Vĩ đang hỏi nhà thơ. Mà câu hỏi nghe sao có chút hờn, chút giận, trách một người sao lâu quá không ghé về chơi. Không biết được là ai đang hỏi, chỉ biết rằng sau câu hỏi ấy hình ảnh thôn Vĩ hiện lên mơ hồ trong trí nhớ của nhà thơ, không hoàn chỉnh, không rõ nét nhưng rất đẹp và bình dị.

Thôn Vĩ hiện lên vào buổi sớm mai, nắng chiếu qua những hàng cau thẳng tấp, nắng sáng nhuộm lên khắp không gian một màu lấp lánh, những hàng cây trong vường xanh mơn mởn làm say đắm lòng nhà thơ, đến nỗi nhà thơ phải cảm thán một câu “mướt quá”. Nhà thơ đang trong những hoài niệm cũ về khung cảnh làng quê thôn Vĩ Dạ, một thôn quê tươi đẹp, hiền hòa bên dòng sông Hương, cảnh vật thật nên thơ hữu tình, có nắng hàng cau, có vườn cây xanh mướt, còn có người thôn Vĩ hiền lành, đôn hậu. Người thôn Vĩ được nhà thơ khắc họa mơ hồ, không trực diện, bị che ngang bởi một lá trúc, nhẹ nhàng mà duyên dáng, lá trúc không che hết được nét đẹp đôn hậu của một khuôn mặt chữ điền.

Xem thêm:  Phân tích quê hương làng cảnh Việt Nam trong ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến

Có thể thấy được thôn Vĩ và người thôn Vĩ làm nhà thơ say đắm và in những dấu ấn sâu nặng trong làng nhà thơ, để khi nhớ về nhà thơ không giấu nổi cảm xúc nhớ mong, luyến tiếc

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Đoạn thơ với khung cảnh nên thơ, trữ tình như nét đẹp của dòng sông Hương, có gió, có mây, có con thuyền lấp lánh trên dòng sông trăng. Nhưng đoạn thơ cũng ẩn chứa nỗi buồn man mác, nỗi buồn đọng lại sau những khát khao, mong mỏi của nhà thơ. Nổi buồn của sự chia lìa, phân ly “gió theo lối gió, mây đường mây”, gió và mây đi theo hai hướng trái ngược, cũng là tâm trạng của người với người đang ngược lối với nhau, đang đi về hai phía khác nhau. Chính bởi lòng người đang đau thương vì cách trở nên cảnh vật hữu tình cũng nhuốm màu buồn theo “dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”, dòng nước cũng buồn thay cho sự cách trở, phân ly, hoa bắp buồn thay chẳng muốn đung đưa theo gió chỉ khẽ lay nhẹ nhàng.

Hàn Mặc Tử viết bài thơ này khi ông đã phát bệnh, chính vì vậy nỗi nhớ thôn Vĩ dâng lên mang theo cả khát khao và mong mỏi của ông, mong được về cùng người thôn Vĩ, mong được đến tận hưởng nét đẹp nên thơ của thôn Vĩ, dường như ông thấy được bên cạnh thôn, ông chỉ cần xuống thuyền liền có thể về thôn Vĩ, con thuyền trên sông được chiếu sáng lung linh, lấp lánh đẹp như lúc này của nhà thơ, nhà thơ muốn đến ngay với thôn Vĩ trong đêm, muốn đến liền lập tức. Nhưng đi cùng nỗi khát khao là tuyệt vọng, nhà thơ muốn đến ngay thôn Vĩ nhưng trong thơ lại chỉ có thể thả hồn đi, người muốn đi là nhà thơ, muốn kịp đến trong đêm là nhà thơ, nhưng khách trên thuyền lại là ánh trăng. Có thể thấy bệnh tật ngăn cản của nhà thơ, lòng muốn đi cũng chỉ có thể gửi gắm qua ánh trăng, đau thương và tuyệt vọng. Nỗi niềm của nhà thơ hiện rõ hơn ở khổ thơ cuối

Xem thêm:  Cảm nghĩ về mái trường thân yêu (văn biểu cảm)

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Thôn Vĩ giờ chỉ còn là mơ hồ, tưởng nhớ của nhà thơ, không thể về chỉ có thể mơ, nhà thơ mơ được làm “khách đường xa”, song giữa Huế và Quy Nhơn không có khoảng cách quá xa về địa lý, Hàn Mặc Tử lại thấy xa, đây chính là khoảng cách trong lòng nhà thơ, nỗi tự ti, mặc cảm bệnh tật làm nhà thơ trở nên xa cách, tách biệt với mọi thứ, tất cả đều trở nên mơ hồ. “Mơ”, “trắng quá”, “nhìn không ra”, “sương khói”, “mờ” tất cả những từ chỉ sự mơ hồ đều được nhà thơ vận dụng, chính là để thể hiện nỗi tuyệt vọng của mình, những thứ quen thuộc trở nên khó nắm bắt, tất cả đều là mơ hồ, , hồi tưởng mà thôi. Những xa xôi khoảng cách do chính tâm hồn đau thương vì bệnh tật của nhà thơ tạo nên làm chính ông cảm thấy hoài nghi

“Ai biết tình ai có đậm đà?”

Có thể thấy được phía sau câu thơ này ẩn hiện một nụ cười khổ, một nỗi đau thương, tuyệt vọng đánh mất lòng tin vào chính mình dẫn đến hoài nghi trước tất cả, hoài nghi lòng người, cảnh vật cũng mơ hồ không rõ.

Bài thơ bắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ Dạ, về nỗi nhớ và mong mỏi được về chơi thôn Vĩ được gặp người thôn Vĩ của nhà thơ, song cuối cùng bên cạnh những sông trăng, những hàng cau hay vườn cây xanh mướt chỉ còn lại nỗi đau thương, tuyệt vọng vì mặc cảm, tự ti bệnh tật của nhà thơ. Qua bài thơ có thể được bút pháp tài tình của Hàn Mặc Tử, sự kết hợp hài hòa giữa tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình. Cảnh đẹp xứ Huế được hiện lên qua những nét đẹp tượng trưng, sự mơ mộng tạo nên hương vị lãng mạn, nỗi đau chân thật mang đến sắc thái trữ tình.

Võ Thị Bảo Trân