Những bài văn hay lớp 11

[Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

[Văn mẫu bất hủ] bài thơ Thương vợ của Trần

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài.

  • Đề tài người phụ nữ Việt Nam luôn là đề tài muôn thuở mà các nhà văn, nhà thơ hướng đến.
  • ”Thương vợ” của Tú Xương vừa nhẹ nhàng vừa sâu lắng, vừa thể hiện lòng đồng cảm sâu sắc nơi độc giả.

2. Thân bài.

2.1. Khái quát công việc và hoàn cảnh của bà Tú:

”Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

  • ”quanh năm” liên tục, không nghỉ ngơi, kéo dài từ ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác không kể mưa nắng.
  • Từ ”nuôi đủ” là không thừa và cũng không thiếu. Tác giả cũng sử dụng từ ”với” như một đòn gánh, ví như một chồng bằng năm con.
  • Số từ ” năm- một” như tăng lên nỗi vất vả của người phụ nữ ấy.

2.2. Đó là một tiếng lòng tri âm, sự biết ơn to lớn với công lao của người vợ. 

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

  • Đọc câu thơ, ta càng thấm thía hơn nỗi khổ cùng cực trước những khó khăn của cuộc đời.
  • ” Quãng vắng, đò đông ” như gợi đến không gian vắng vẻ, heo hút tạo nên cô đơn, không gian khác nhau nhiều bề, luôn có sự nguy hiểm rình rập.

2.3. Dòng suy nghĩ tiếp tục miên man trong những câu thơ:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

  • Tác giả dường như thâm nhập vào lời bà Tú, như lời than thở trách móc.
  • ”Duyên” là duyên phận, duyên số chỉ vợ chồng khi lấy nhau có được , nhưng từ ”nợ” lại là không may mắn, không .
  • Phép đảo ngữ ”năm nắng mười mưa” đảo lên đầu câu như nhấn mạnh sự vất vả dầm mưa dãi nắng, một đức hi sinh cao đẹp và đáng trọng của người vợ.

2.4. Kết thúc bài thơ, Tú Xương không thể kìm nén trước những hi sinh của người vợ mà phải thốt ra lời tự trào:

Xem thêm:  Giá trị nghệ thuật trong những bài thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

  • Câu thơ mang chút bóng dáng của lối than thân trách phận rất giản dị.
  • Câu thơ có phần nhấp nhô, xù xì của đời sống thực tại.

3. Kết bài.

  • Đằng sau lời tự trào của nhà thơ ta còn thấy là một trái tim tràn đầy yêu thương, như có nước mắt chảy ở đầu ngọn bút vậy.
  • Để đến ngàn đời sau những tiếng thơ ấy vẫn đủ sức vỗ mãi vào tâm hồn người đọc.

phan tich bai tho thuong vo - [Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Phân tích bài thơ Thương vợ

Bài văn tham khảo

Đề tài người phụ nữ Việt Nam luôn là đề tài muôn thuở mà các nhà văn, nhà thơ hướng đến. Không chỉ , chăm chỉ, người phụ nữ Việt Nam còn có tấm lòng thủy chung, son sắc với đức hi sinh cao cả. Viết về mảng đề tài này không thể không kể đến ”thương vợ” của Tú Xương. Vừa nhẹ nhàng vừa sâu lắng, vừa thể hiện lòng đồng cảm sâu sắc nơi độc giả, những người tiếp nhận văn học.

Nhà văn cũng đã từng biểu dương Tú Xương là một người thơ, một nhà thơ đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng tiếng nói của nền văn học Việt Nam. Chính người vợ đã gây cảm hứng cho Tú Xương viết nên bài ” thương vợ ” như một lời thú nhận và cũng là bài ca về đức hạnh, phẩm chất tốt đẹp của người vợ nói riêng, của người phụ nữ Việt nói chung.

Bài thơ chứa chan tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo. Mở đầu bài thơ, tác giả đã hé lộ hoàn cảnh và cũng là công việc của bà Tú:

”Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Thời gian ”quanh năm” liên tục, không nghỉ ngơi, kéo dài từ ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác không kể mưa nắng, dường như đã trở thành một thói quen không thể phá bỏ. Chi tiết ấy gợi sự tần tảo sớm hôm, một nắng hai sương của bà Tú. Công việc buôn bán đầy vất vả và khó khăn, luôn đòi hỏi phải có sự tháo vát, nhanh nhẹn. Không gian buôn bán không phải ở ven sông hay bờ sông mà là ” mom sông ” ba bề bốn bên, sự khó khăn và nguy hiểm có thể đến bất cứ lúc nào. Hơn nữa, cụm từ còn gợi cho ta cái cảm giác heo hút và cũng lạnh lẽo. Điều ấy chứng tỏ rằng sẽ có rất ít khách đến mua hàng của bà. Nhưng người đàn bà ấy chấp nhận khó khăn, vất vả, luôn nhẫn nại. Đó cũng là , niềm hy vọng không bao giờ vơi cạn trong trái tim của người phụ nữ, bởi nếu không có thì sẽ chẳng bao giờ có thể kiên trì đi làm suốt quanh năm như vậy.

Xem thêm:  Vẻ đẹp của Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

”Nuôi đủ năm con với một chồng”

to lớn nhất của người phụ nữ đó chính là gia đình. Từ ”nuôi đủ” là không thừa và cũng không thiếu. Tác giả cũng sử dụng từ ”với” như một đòn gánh, ví như một chồng bằng năm con. Số từ ” năm- một” như tăng lên nỗi vất vả, đảm đang tháo vát của bà Tú. Sức nặng ấy như đè lên đôi vai bé nhỏ của người vợ, cũng là nỗi hổ thẹn của nhà thơ khi không thể giúp ích được cho gia đình. ”Chồng” được đặt ở cuối câu phải chăng là tiếng khóc tự trào, coi mình như kẻ ăn bám, đặt ngang hàng với con và thừa nhận rằng mình là kẻ vô tích sự. Đó là một tiếng lòng tri âm, sự biết ơn to lớn với công lao của người vợ.

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Đọc câu thơ, ta càng thấm thía hơn nỗi khổ cùng cực trước những khó khăn của cuộc đời. Thơ ca Tú Xương luôn thấm đẫm cốt cách dân tộc. Bởi nhà thơ đã gửi gắm hình ảnh của người vợ trong hình tượng ””. Từ xưa, cánh cò luôn là hiện thân của người phụ nữ cần cù, chịu thương chịu khó giàu đức hi sinh:

” Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”

”Quãng vắng, đò đông ” như gợi đến không gian vắng vẻ, heo hút tạo nên hình ảnh người phụ nữ cô đơn, không gian khác nhau nhiều bề, luôn có sự nguy hiểm rình rập. Từ láy ”lặn lội, eo sèo” kết hợp với phép đảo ngữ nhằm nhấn mạnh tình cảnh bấp bênh trong công việc lặn lội kiếm sống. Từ ”eo sèo” phải chăng là tiếng kì kèo giữa người mua và bán? Hình ảnh bà Tú chịu thương chịu khó, đảm đang,  tần tảo tháo vát và cũng là hình ảnh trong sự quan sát của nhà thơ.

Dòng suy nghĩ tiếp tục miên man trong những câu thơ:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

Tác giả dường như thâm nhập vào lời bà Tú, như lời than thở trách móc. ”Duyên” là duyên phận, duyên số chỉ vợ chồng khi lấy nhau có được hạnh phúc, nhưng từ ”nợ” lại là không may mắn, không hạnh phúc. Trong câu thơ ấy như có cấp số nhân: duyên chỉ có một mà nợ những hai. Bằng việc vận dụng linh hoạt và sáng tạo thành ngữ, hiện tượng tách từ ”một duyên hai nợ”, phép đối đã chỉ sự thiệt thòi của bà Tú, giọng thơ thật  nhiều xót xa và thương cảm cũng là thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le. Câu thơ tiếp theo lại là sự ca ngợi, niềm trân trọng vô bờ bến đối với nhân cách của người phụ nữ. Phép đảo ngữ ”năm nắng mười mưa” đảo lên đầu câu như nhấn mạnh sự vất vả dầm mưa dãi nắng, một đức hi sinh cao đẹp và đáng trọng của người vợ.

Xem thêm:  Nghị luận về truyền thống Tôn Sư Trọng Đạo

Kết thúc bài thơ, Tú Xương không thể kìm nén trước những hi sinh của người vợ mà phải thốt ra lời tự trào:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Câu thơ mang chút bóng dáng của lối than thân trách phận rất giản dị. Câu thơ có phần nhấp nhô, xù xì của đời sống thực tại. ”Thói đời” là thể hiện xã hội thật bất công, ngang trái và bạc bẽo. Tác giả như tự trách mắng mình là người vô dụng, vô trách nghiệm với gia đình. Như sự nhập thân vào nỗi đau, những khó nhọc của người vợ, chửi thay cho vợ vì sự bất lực. Đó là tiếng nói của một tri thức giàu nhân cách, Tú Xương thương cho vợ và cũng là thương cho mình một nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!.

Nhà nghiên cứu văn học đã có lời nhận xét:” Bà Tú không phải chỉ là một người  đàn bà. Bà còn là một vị thiên thần trời sai xuống, không phải để giúp ông Vị Xuyên trên bước đường danh lợi, mà để cho nước Việt Nam một nhà đại thi hào”. Đằng sau lời tự trào của nhà thơ ta còn thấy là một trái tim tràn đầy yêu thương, như có nước mắt chảy ở đầu ngọn bút vậy. Với lời thơ thật mộc mạc và giản dị đậm phong vị dân tộc nhà thơ đã đóng góp những vần thơ có giá trị trong nền văn học Việt Nam, để đến ngàn đời sau những tiếng thơ ấy vẫn đủ sức vỗ mãi vào tâm hồn người đọc.