Những bài văn hay lớp 11

[Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến

[Văn mẫu bất hủ] bài thơ của

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài.

  • Nguyễn Khuyến – một nhà thơ của làng cảnh Việt Nam với tấm lòng yêu thiên nhiên, tâm sự u hoài trước thời cuộc.
  • Đặc biệt trong bài thơ ‘’tiến sĩ giấy’’ nhà thơ đã thể hiện được nỗi niềm của mình trước thời cuộc.

2. Thân bài.

  • Hai câu thơ đầu:

‘’Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai.”

+ Trong câu thơ, tác giả đã sử dụng bút pháp liệt kê hàng loạt sự vật ‘’cờ, biển, cân đai,..’’ giúp hình dung ra cảnh tượng nhà thơ cầm ông tiến sĩ giấy trên tay với sự hóm hỉnh, vui thích.

  • Hai câu tiếp:

“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”

+ Tiến sĩ giấy chỉ bằng vài mảnh ghép đã có thể tạo thành, trong câu thơ tác giả sử dụng phép đối giữa hình thức bên ngoài(thân giáp bảng là giả) với bản chất bên trong (mảnh giấy là sự tầm thường chính là thật).

  • Đến câu thơ sau, nhà thơ bày tỏ thái độ, cảm xúc của mình:

“Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh ấy mới hời.”

+ Cách đánh giá của nhà thơ về đối tượng bàn luận, vừa mỉa mai châm biếm, coi thường tình trạng mua quan bán tước lan tràn trong xã hội.

  • Tác giả như vừa châm biếm mỉa mai thực trạng xã hội, vừa cười người nhưng để rồi cười mình, để xót xa cho chính và cho cả đất nước.

“Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe

Nghĩ rằng đồ thật hóa .”

+ Cách gieo vần thật độc đáo và ấn tượng ‘’eo, oe’’ kết hợp với bút pháp tả thực đã khái quát đặc điểm ông tiến sĩ đồ chơi, bề ngoài uy nghi oai vệ và hợm hĩnh.

Xem thêm:  Trình bày giá trị của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

+ Cách dùng từ ‘’bảnh chọe’’ gây nhiều ấn tượng.

3. Kết bài.

  • Bài thơ ‘’tiến sĩ giấy’’ với cái nhìn châm biếm sắc sảo sâu cay, đỗ đại khoa mà hữu danh vô thực, tự trào và cũng tự đặt mình vào trong cuộc, cười tiến sĩ giấy cũng là cười mình.
  • Day dứt với sự tồn tại vô vj của mẫu hình nhà thơ trước thời cuộc, đồng thời thể hiện bản lĩnh lương tâm trách nghiệm tri thức.

phan tich bai tho tien si giay - [Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến

Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy

Bài văn tham khảo

Nguyễn Khuyến – một nhà thơ của làng cảnh Việt Nam với tấm lòng yêu thiên nhiên, cảnh sắc đất nước. Không những vậy, ông còn có những tâm sự u hoài trước thời cuộc. Trong nền Nho học suy vi, các rường mối xã hội trở nên rệu rã, tệ mua quan bán tước trở nên phổ biến, làm xuất hiện nhiều kẻ chỉ có hư danh mà không có thực học. Điều ấy khiến cho những người có tài năng thực sự và đỗ đạt cao như Nguyễn Khuyến cũng phải ngậm ngùi, bất lực và cũng có chút tự trào. Đặc biệt trong bài thơ ‘’tiến sĩ giấy’’ nhà thơ đã thể hiện được nỗi niềm của mình trước thời cuộc.

Hình nộm ông tiến sĩ giấy là hình nộm bằng giấy cho trẻ em chơi trung thu, giả hình ông tiến sĩ để khơi dậy trẻ em lòng ham học và ý thức theo khoa cử. Tuy nhiên trong văn bản, “giấy” không chỉ để gợi về chất liệu mà còn khiến người đọc liên tưởng đến tính chất hư danh. Cách tả thực ở những góc độ phương diện khác nhau, từ dáng bên ngoài đến chất liệu bên trong giúp người đọc hình dung ông tiến sĩ bằng giấy rất giống thật. Vẻ ngoài thì vênh váo, tự đắc trong ngày vinh quy bái tổ, hình ảnh ấy thật vui mắt và ngộ nghĩnh cho những người thấu rõ được bản chất của sự việc:

‘’Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai.”

Trong câu thơ, tác giả đã sử dụng bút pháp liệt kê hàng loạt sự vật ‘’cờ, biển, cân đai,..’’ giúp hình dung ra cảnh tượng nhà thơ cầm ông tiến sĩ giấy trên tay với sự hóm hỉnh, vui thích. Điệp từ ‘’cũng’’ là một cách so sánh, khẳng định sự giống nhau giữa các đối tượng, đồng thời là cách khen ‘’người đồ chơi’’ được chế tác khéo léo giống như người thật. Điệp từ “cũng” được nhắc đi nhắc lại đến bốn lần ở đầu mỗi dòng thơ khiến người đọc không thể nghi ngờ bản chất của đối tượng, một sự mỉa mai, châm biếm để phủ nhận không thể có ông nghè thật bởi cờ, biển, cân đai không có sẵn.

Xem thêm:  Những cảm nhận tinh tế của Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”

Tiến sĩ giấy chỉ bằng vài mảnh ghép đã có thể tạo thành, trong câu thơ tác giả sử dụng phép đối giữa hình thức bên ngoài(thân giáp bảng là giả) với bản chất bên trong (mảnh giấy là sự tầm thường chính là thật). Tất cả đều giúp người đọc nhận thức sâu sắc, khẳng định sự sang trọng cao quý cũng chỉ là mẽ bề ngoài, tầm thường chỉ là danh phú quý, danh tiến sĩ giả mà thôi. Những kẻ không có thực chất thì cũng chỉ là kẻ hữu danh vô thực, không đáng trọng.

Đến câu thơ sau, nhà thơ bày tỏ thái độ, cảm xúc suy nghĩ của mình:

“Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh ấy mới hời.”

Cách đánh giá của nhà thơ về đối tượng bàn luận, vừa mỉa mai châm biếm, coi thường tình trạng mua quan bán tước lan tràn trong xã hội. Câu hỏi tu từ ‘’sao mà nhẹ’’ giọng thơ thật chua xót, ngậm ngùi và day dứt, trăn trở khi chứng kiến nghịch cảnh buổi nho học suy tàn. Ngay bản thân tác giả là người trọng danh dự, giữ gìn tiết tháo ngay trong cõi đời nhiều giá trj bị biến đổi như vậy. Tác giả như vừa châm biếm mỉa mai thực trạng xã hội, vừa cười người nhưng để rồi cười mình, để xót xa cho chính bản thân và cho cả đất nước.

“Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.”

Cách gieo vần thật độc đáo và ấn tượng ‘’eo, oe’’ kết hợp với bút pháp tả thực đã khái quát đặc điểm ông tiến sĩ đồ chơi, bề ngoài uy nghi oai vệ và hợm hĩnh. Cách dùng từ ‘’bảnh chọe’’ gây nhiều ấn tượng vừa là lời khen lại bao hàm sự mỉa mai, châm biếm và khinh bỉ. Cách kết thúc câu thơ thật bất ngờ và tự nhiên. Như một giao ước ngầm với độc giả đang nói về đồ chơi bỗng dưng ’’quên’’ nghĩ rằng đó là đồ thật, như là lời tự trách mình. Cách việt thật tự nhiên thể hiện qua ý đồ sáng tạo, nhằm bóc trần sự trống rỗng của ông nghè bằng xương bằng thịt. Bài thơ thoát ra ý tự trào, châm biếm hình ảnh ông nghè hữu danh vô thực rất bất tài. Tự vịnh và cũng là tự trào mình vì bản thân ông cũng là ông nghè nhưng chưa giúp được cho dân, cho vua:

Xem thêm:  Trình bày suy nghĩ về tục ngữ Tháng giêng ăn nghiêng bồ thóc văn mẫu tuyển chọn

“Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ

Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng”

Hay:

‘’Nhân hứng cũng vừa toan cất bút 

Nghĩ ra lại thẹn với ông đào’’

‘’Sách vở ích gì cho buổi ấy? 

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già. 

Xuân về ngày loạn còn lơ láo, 

Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ.’’

Trong câu thơ được vận dụng lối song quan có hiệu quả đưa tới cho người đọc bất ngờ thú vị. Đối tượng được miêu tả trực tiếp, trong đó gợi liên tưởng khác có nhiều nét tương đồng, khác với hình ảnh ẩn dụ, hình tượng thơ song quan thường gây nên chút thân vận cho người đọc, buộc tích cực nhiều hơn. Giọng điệu thơ thật phong phú, lúc mỉa mai châm biếm khi chua xót ngậm ngùi.

Bài thơ ‘’tiến sĩ giấy’’ với cái nhìn châm biếm sắc sảo sâu cay, đỗ đại khoa mà hữu danh vô thực, tự trào và cũng tự đặt mình vào trong cuộc, cười tiến sĩ giấy cũng là cười mình. Day dứt với sự tồn tại vô vị của mẫu hình con người nhà thơ trước thời cuộc, đồng thời thể hiện bản lĩnh lương tâm trách nghiệm tri thức. Không chỉ trong thời đại của Nguyễn Khuyến mà nó có ảnh hưởng tới cả xã hội ngày hôm nay, luôn là vấn đề nhức nhối của cả cộng đồng. Luôn phải tìm ra cách khắc phục để xã hội ngày càng phát triển, , tiến bộ và công bằng hơn.