Những bài văn hay lớp 11

[Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

[Văn mẫu bất hủ] bài thơ của

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

+ Tác giả: là một nhà thơ, nhà yêu nước, chịu ảnh hưởng của thơ Đường và Pháp. Tác giả xuất sắc của phong trào thơ mới.

+ Các tác phẩm tiêu biểu: tập thơ Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Đất nở hoa…

+ Tác phẩm: sáng tác vào năm 1939, in trong tập Lửa thiêng. Khung cảnh hoàng hôn trên sông Hồng khơi gợi cảm xúc của nhà thơ.

2. Thân bài:

Câu đề mở đầu cho những nỗi buồn của tác giả.

Bốn câu thơ đầu:

+ Mô tả không gian phía trước mặt của tác giả, rộng lớn, bao la. Từ hình ảnh bao la, rộng lớn dâng lên cảm xúc buồn, đơn độc.

+ Âm hưởng thơ Đường đi vào thơ ca Huy Cận, kết hợp cùng những hình ảnh mới mẻ, hiện đại.

+ Những hình ảnh gợi tả sự cô đơn: “thuyền về”, “nước lại”, “cành củi khô”

Bốn câu thơ tiếp theo:

+ Tác giả đưa tầm nhìn ra xa hơn, cao hơn và sâu hơn để diễn tả nỗi cô đơn, lẻ loi của mình.

+ Lòng yêu nước thầm kín của tác giả qua viễn cảnh u tịch của cồn nhỏ, làng xa.

Bốn câu thơ tiếp theo:

+ Nỗi xót thương của tác giả trước số phận con người lênh đênh, trôi dạt, như “bèo”.

+ Nỗi lòng mong mỏi có người đồng hành, để thoát khỏi cảnh cô đơn.

Bốn câu thơ cuối:

+ Phân tích sự đối lập giữa hình ảnh “lớp lớp mây cao” và “chim nghiêng cánh nhỏ”: sự cô đơn, nhỏ bé, bất lực…

+ Lòng yêu nước, nỗi nhớ nhà làm nỗi buồn của tác giả hơn cả thi nhân xưa.

3. Kết bài:

+ Thấy được màu sắc cổ điển trong thơ ca hiện đại.

+ Nhận định về nghệ thuật và sự tài năng của nhà thơ Huy Cận.

phan tich bai tho trang giang - [Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Phân tích bài thơ Tràng giang

Bài văn  tham khảo

Huy Cận là một nhà thơ, một nhà yêu nước, tích cực hoạt động trong Mặt trận Việt Minh. Thơ ông chịu ảnh hưởng lớn của thơ Đường và văn học Pháp, chính vì vậy có nhiều tác phẩm của ông pha trộn giữa âm điệu văn phong Đường thi và phong cách hiện đại. Ông cũng là một tác giả xuất sắc của phong trào thơ mới, ông đã để lại cho đời nhiều áng thơ hay như tập thơ Lửa thiêng, Vũ trụ ca, tập thơ Đất nở hoa …Thơ của Huy Cận hàm súc, giàu suy tưởng, triết lý, ông là gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại và được nhà nước trao tặng giải thưởng về văn học và nghệ thuật năm 1996.

Bài thơ được xem là hay nhất và tiêu biểu nhất của Huy Cận là bài thơ Tràng giang được sáng tác vào mùa thu năm 1939 và in trong tập thơ Lửa thiêng. Cảm hứng sáng tác của bài thơ chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mông sóng nước. Cảnh vật trên sông làm dâng trào cảm xúc của nhà thơ để ông viết nên một áng thơ man mác buồn, một niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và một tấm lòng đối với đất nước.

Xem thêm:  Cảm nhận về câu truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

Câu đề của tác giả đã diễn tả một nỗi nhớ bâng khuâng đang hiện hữu khi ông đứng giữa đất trời và con sông dài rộng, giữa cái không gian và ấy mang đến những nỗi nhớ, nỗi buồn man mác.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Tràng giang là từ chỉ một con sông dài và rộng, nếu dùng thay thế bằng từ trường giang sẽ không diễn tả hết được sự rộng lớn, bao la của con sông trước mặt, một con sông không chỉ dài mà còn rất rộng và bao la, bao la như một cuộc đời. Những từ láy “điệp điệp”, “song song” giúp khắc họa lên hình ảnh con sông rộng lớn, bao la. Đứng trước một con sông rộng lớn, bao la chàng sinh viên trường đại học Công Nông cảm nhận được những nỗi buồn, sự cô đơn lẻ loi trong cuộc đời. Như chiếc thuyền nhỏ bé trên sông kia, giữa mênh mông sông nước con thuyền lẻ loi đơn độc, như chính chàng sinh viên đứng trên bến sông, đơn độc một mình.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngã;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Những hình ảnh miêu tả trong thơ của Huy Cân chịu sự ảnh hưởng của thơ ca thời Đường nên đậm nét cổ điển và quen thuộc như con sông, con thuyền, cách sử dụng âm điệu cũng đậm nét thi ca cổ làm cho nổi buồn đơn độc của tác giả hiện hữu lên đầy xao xuyến và chân thực, thuyền và nước vốn là thứ đã song song lại còn “thuyền về”, “nước lại” mới thấy được sự cô đơn, lẻ loi như thể không ai hiểu được lòng mình, trên hướng đi của mình cô độc và lẻ loi, dường như mình đang đi ngược lại với tất cả, nỗi buồn khi không có ai thấu hiểu được lòng mình và cái buồn lan rộng khắp xung quanh, cảnh vật nhìn đâu cũng thấy buồn.

Pha lẫn với những hình ảnh cổ điện, Đường thi thì phong cách Huy Cận vẫn là dẫn đầu trong thơ ca hiện đại, giữa các hình ảnh quen thuộc, sự xuất hiện “của cành củi khô” là một hình ảnh mới mẻ nhưng cũng có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện một nổi buồn bi thương, cành củi vốn đã nhỏ bé, mỏng manh lại bị khô héo đi, không có sức sống, song còn trôi dạt trên sông, lạc mấy dòng. Tâm hồn tác giả lúc này có phải chăng đang rối bời suy tư, cảm giác lạc lối làm cho bản thân như kiệt sức đi, không còn chút sức lực nào, héo khô theo dòng đời.

Xem thêm:  Soạn bài thao tác lập luận bác bỏ – luyện tập

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãng chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Tầm nhìn của tác giả phóng xa hơn, vượt qua con sông đến bến bờ bên kia, có thể là để tìm một hình ảnh người nào đấy cho lòng bớt cô đơn, như tìm một người bạn đồng hành. Nhưng buồn thay không có một ai khác, xung quanh chỉ là những “đìu hiu”, “cô liêu”. Âm thanh cuộc sống duy nhất vang đến là những tiếng động của một buổi chợ chiều đang dần tan, nhưng chợ chiều ấy lại ở trong làng xa, nên thành ra giữa trời rộng, sông dài này chỉ còn lại “bến cô liêu”. Huy Cận phát huy hết khả năng xây dựng hình ảnh không gian của mình ở đoạn thơ này, ông vừa miêu tả cảnh vật với chiều dài, chiều rộng, chiều cao và sâu, mở ra một không gian ba chiều để diễn tả hết được giữa mênh mông, bao la đất trời này sự cô đơn bao trùm, bến sông kia hay người đang đứng trên bến sông kia nhỏ bé và đơn độc biết bao.

Sự miêu tả ở đây còn là về một khung cảnh tĩnh lặng, nhuốm màu u tối, những cồn nhỏ, những chợ chiều, bến cô liêu tạo nên hình ảnh tĩnh mịch, buồn bả. Huy Cận có vẻ như đang xót xa cho đất nước của mình, đất nước đang rơi vào một bức tranh u tối, không có sự náo nhiệt, con người và cảnh vật trở nên đơn độc, buồn tẻ và khô héo. Đây chính là lòng yêu nước thầm kín của nhà thơ Huy Cận, từ năm 1942 ông bắt đầu tham gia vào hoạt động cách mạng và là một nhà hoạt động cách mạng hăng hái, tích cực, chính vì vậy trong lúc này khi chưa tham gia vào cách mạng, đứng trước buổi chiều hoàng hôn này, nỗi thương xót cho quê hương và đồng bào làm cho đáy lòng ông nhuộm đầy bi thương, cảnh vật cũng trở nên u buồn.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Bèo là hình ảnh ví von quen thuộc trong thơ ca từ xưa về hình ảnh những người dân nhỏ bé, lương thiện. Ở đây Huy Cận dùng hình ảnh bèo hàng nối hàng, chính là không chỉ có một thân phận người cơ cực, nhỏ bé mà rất nhiều, rất nhiều những mảnh đời như thế, nhỏ bé, lênh đênh, không biết sẽ trôi dạt về đâu. Giữa mênh mông sông dài không có lấy một chuyến đò đưa người sang sông, cũng như trong ngổn ngang những của mình tác giả không tìm thấy được một hay một lối đi nào đúng đắn. Hình ảnh bờ xanh tiếp bãi vàng tượng trưng cho sự gắng kết, đoàn kết có thể đó là ước muốn của tác giả, đứng trước sự cô đơn, lẻ loi của mình tác giả khát khao có được sự ủng hộ, trợ giúp hay một người đồng hành trên lý tưởng của mình để thoát khỏi sự cô đơn, lẻ loi, hay ít nhất chia sẽ cùng ông những khó khăn lúc này. Không cầu một sự thân mật quá mức chỉ cần người hiểu và đồng hành.

Xem thêm:  Chất thơ trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Từ láy “lớp lớp” và động từ “đùn” cho thấy sự vĩ đại, lớn lao của trời đất, hình ảnh cánh chim nhỏ hiện ra là một sự đối lập hoàn toàn. Một lần nữa diễn tả cái sự cô đơn đang bao trùm tác giả, đứng trên bờ sông nhìn ra trời rộng, sông dài, bến vắng, chợ chiều nghĩ về đất nước, về số phận con người càng nghĩ tác giả càng thấy mình nhỏ bé, cô độc, những mong ước của tác giả là mong mỏi góp sức cho đất nước nhưng lại thấy mình chỉ là cánh chim nhỏ, sức lực không là bao, muốn tìm một con đường lại không thấy có lối đi nào, bế tắc và bất lực.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Lòng yêu nước của nhà thơ khi đứng trước cảnh vật buồn của buổi chiều hoàng hôn dâng lên như làm lay động mặt nước, “dợn dợn” là một cảm giác cồn cào, bức rức làm người ta khó chịu, làm người ta buồn. Và vì quá buồn, quá cô đơn, lẻ loi mà nhớ về nhà. Một người con đi học xa nhà, nỗi nhớ nhà là luôn hiện hữu, lại đứng trước cảnh vật tĩnh mịch, u buồn những cảm xúc buồn thương đang dâng cao thì nỗi nhớ nhà đột nhiên ùa đến cũng là hợp lý. Bởi chính vì vậy mà nổi nhớ đến rất tự nhiên so với nỗi nhớ nhà trong Hoàng Hạc lâu của nhà thơ Thôi Hiệu thời Đường:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Thì cả hai nỗi nhớ này đều xuất phát trong buổi chiều hoàng hôn, nhưng nỗi nhớ của Thôi Hiệu trỗi lên khi nhìn những khói sóng trên sông, làm nhớ đến khói bếp quê nhà mà nhớ nhà, còn Huy Cận chẳng cần đến những khói sóng gợi nhớ ấy cũng dâng lên nỗi nhớ nhà. Ở đây sự so sánh này cho thấy nỗi nhớ nhà da diết của Huy Cận, một nỗi buồn mênh mang và đang lan tỏa của nhà thơ trước một cảnh hoàng hôn tĩnh mịch, hơn cả thi nhân xưa.

Cả bài thơ là sự hòa trộn giữa những ảnh hình thi ca cổ điển, cùng với những nét đặc sắc của thơ ca hiện đại, sự phối hợp hài hòa giữa cũ và mới đã diễn tả nên một nổi buồn mênh mang, một sự cô đơn, lẻ loi của một chàng sinh viên đứng giữa đất trời bao la. Có sự lo lắng, bế tắc về con đường đi mới, cũng có sự khát khao, mong mỏi được hòa nhập với cuộc đời. Bằng tài năng của mình Huy Cận đang xen một tấm lòng với đất nước nhẹ nhàng len lỏi giữa cái buồn, cô độc của .

Võ Thị Bảo Trân