Những bài văn hay lớp 11

[Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

[Văn mẫu bất hủ] bài thơ 2 của

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

+ Đôi nét về tác giả: Hồ Xuân Hương “Bà chúa thơ Nôm”, là người tài hoa nhưng tình duyên gặp nhiều trắc trở.

+ Tác phẩm: năm trong ba bài thơ Tự tình, nói lên tâm trạng buồn tủi, phẫn uất của người phụ nữ và hạnh phúc của nữ sĩ.

2. Thân bài:

Hai câu đề:

+ Miêu tả không gian và : đêm khuya, văng vẳng trống canh dồn.

+ Diễn tả sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ: “trơ”, “hồng nhan”, “nước non”.

Hai câu thực: Nỗi buồn đơn độc và sự xót xa cho đẹp nhưng không được trọn vẹn: “say lại tỉnh”, trăng khuyết..

Hai câu luận:

+ Ngắm cảnh so sánh với cuộc đời buồn tủi: “Rêu từng đám”, “đá mấy hòn”

+ Sự bức phá, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc: “Xiên ngang”, “đâm toạc”…

Hai câu kết: Thể hiện sự chán nản, ngán ngẩm cảnh đời, xót xa cho thân phận chồng chung, chia sẽ mảnh tình: “ngán nỗi”, “san sẻ”, “mảnh tình”, “tí con con”.

3. Kết bài:

+ Nét đặc sắc nghệ thuật của Hồ Xuân Hương: sử dụng từ ngữ đặc sắc, xây dựng hình tượng độc đáo.

+ Một người phụ nữ tài hoa và mạnh mẽ, phản kháng trước chế độ xã hội phong kiến.

phan tich bai tho tu tinh 2 - [Văn mẫu bất hủ] Phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

Phân tích bài thơ Tự tình 2

Bài văn tham khảo

Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” của văn học Việt Nam, bà là một hiện tượng độc đáo: nhà thơ nữ viết về phụ nữ. Thơ của bà vừa mang tính trào phúng vừa trữ tình, đậm đà chất văn học dân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ hình tượng. Hồ Xuân Hương là một người tài hoa song cuộc đời, tình duyên lại gặp nhiều trắc trở. Bài thơ nằm trong chùm ba bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương, là một bài thơ thể hiện tâm trạng vừa buồn, vừa tủi, vừa phẫn uất trước duyên phận éo le và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của bà.

Xem thêm:  Trình bày suy nghĩ của mình về cái chết của nhân vật Bê-li-cốp trong truyện ngắn Người trong bao

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

Mở đầu bài thơ là câu miêu tả về không gian và thời gian hiện tại lúc này là một buổi đêm đã khuya, yên tĩnh và vắng lặng chỉ còn lại văng vẳng bên tai là tiếng trống canh dồn dập. Hình ảnh đối lập của “hồng nhan” và “nước non” đặt trong không gian buổi đêm thể hiện nên sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ. Từ “trơ” ám chỉ sự đơn độc, trơ trọi của người phụ nữ, đứng giữa nước non người phụ nữ nhỏ bé biết mấy, ở đây nữ sĩ đang xót thương cho thân phận nhỏ bé của người phụ nữ, đặc biệt là những người phụ nữ chịu cảnh chồng chung. “Văng vẳng” là từ tượng thanh, cũng biểu thị sự tĩnh lặng, không khí buồn vắng vẻ, người phụ nữ trong thơ như đang trông đợi, mong chờ người chồng sẽ đến với mình nên đêm đã khuya vẫn còn thức chờ đợi, vẫn mong ngóng tin tức, nhưng chỉ có sự tĩnh lặng và tiếng trống canh xa xôi dội lại mà thôi.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Chờ đợi trong mỏi mòn và đơn độc, nỗi buồn thương xâm chiếm làm người phụ nữ tìm đến men rượu, để có thể say, có thể quên đi nỗi buồn hay đơn giản hơn là để say mèm đi và ngủ một giấc thật ngon trong cái đêm vắng lặng, tẻ nhạt đáng buồn này. Nhưng uống bao nhiêu vẫn không thể say hết được, rượu đưa hương hết say rồi tỉnh, càng uống lại càng buồn thêm, nỗi buồn chẳng thể vơi đi. Ngẩng đầu nhìn lên vầng trăng trên cao, ánh trăng thì vốn là đẹp, nhưng trăng tròn thì mới là đẹp nhất, còn trăng khuyết thì không hoàn hảo được, nữ sĩ nhìn ánh trăng mà thương thay thân phận đàn bà, hay ở đây chính là thương thay thân phận chính mình, đẹp đấy, tài hoa đấy nhưng tình duyên lận đận, không được trọn vẹn.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Tràng giang của nhà thơ Huy Cận

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Càng ngắm nhìn cảnh vật xung quanh lại càng thấy chính bản thân cô đơn, lẻ loi đến rêu xanh trên mặt đất còn có từng đám, đá ngổn ngang còn có mấy hòn bầu bạn. Nhìn lại chính mình trơ trọi dưới ánh trăng, nỗi buồn càng dâng cao. Ở đây Hồ Xuân Hương sử dụng nghệ thuật đảo chữ “Rêu từng đám, xiên ngang mặt đất – Đá mấy hòn, đâm toạc chân mây” tạo nên sự sinh động cho câu thơ và thể hiện một nỗi dậy, một sự khát khao bức phá. Hơn cả sự cô đơn, lẻ loi đang ẩn chứa là một tâm hồn muốn thoát khỏi những định kiến, những phán xét của xã hội phong kiến, một thân phận nhỏ bé muốn đập phá, muốn xé tan, “xiên ngang”, “đâm toạc” những thứ cứng cỏi, to lớn. Hồ Xuân Hương là một người tài hoa, nhưng lại chịu sự cô đơn, lẻ loi trong thân phận vợ lẻ, chính bà nhận thức được sự nhỏ bé, khổ đau của người phụ nữ và không muốn , không cam chịu, bà muốn vùng lên và khát khao hạnh phúc cho riêng mình.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con

Bà chán nản cảnh lập đi lập lại của năm này sang năm khác, sự khắc nghiệt của những quy tắc, quy cũ trong xã hội phong kiến. Bà cũng ca thán cho thân phận mình, tuổi xuân của người phụ nữ cứ trôi qua trong những năm tháng chán nản và tẻ nhạt, đời người có được mấy mà lại phí hoài trong sự ngán ngẩm hay chờ đợi vô vọng. Hồ Xuân Hương là người phụ nữ chịu nhiều tổn thương trong chuyện tình duyên, không còn nguyện vẹn chỉ còn là một mảnh lại phải san sẻ ra làm “tí con con”. Bà thương xót cho chính mình và cho cả những người phụ nữ chịu cảnh chồng chung, người chồng chung không thể thuộc sở hữu của riêng mình, khi người chồng vui vẻ bên người khác còn lại một mình đơn độc, lẻ loi, chỉ biết chờ đợi trong vô vọng, tìm quên bên men rượu.

Xem thêm:  Lập dàn ý tả cảnh biển vào buổi sáng quê em (Lớp 5, 7)

Trong xã hội phong kiến thân phận người phụ nữ trở nên nhỏ bé và đáng thương, Hồ Xuân Hương từng viết:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Trong thơ ca của Hồ Xuân Hương bà thường so sánh thân phận người phụ nữ với nước non, chính sự so sánh này thể hiện hết được sự nhỏ bé của người phụ nữ. Cũng chính nước non cùng quy tắc và định kiến của xã hội càng làm cho thân phận người phụ nữ trở nên đáng thương hơn. Ở một chế độ người đàn ông có thể tam thê tứ thiếp thì những thân phận nhỏ bé của người phụ nữ chỉ có thể cam chịu sự cô đơn, trơ trọi. Tuy nhiên Hồ Xuân Hương bà mong mỏi thoát ra khỏi sự cô độc này, khát vọng sống và khát khao hạnh phúc của bà trỗi dậy mãnh liệt. Hồ Xuân Hương là một người tài hoa, qua bài thơ có thể thấy được những nét nghệ thuật đặc sắc của bà trong cách sử dụng từ ngữ như đảo chữ, so sánh, từ láy và cách xây dựng hình tượng độc đáo. Tự tình như là lời phản kháng, là tiếng nói đòi quyền hạnh phúc của Hồ Xuân Hương và là sự thấu hiểu, đồng cảm, bênh vực của bà với thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Võ Thị Bảo Trân