Những bài văn hay lớp 12

[Văn mẫu bất hủ] Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

[Văn mẫu bất hủ] nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Kim lân: là nhà văn chuyên viết về chủ đề nông thôn và người nông dân Việt Nam.

– Giới thiệu tác phẩm Vợ Nhặt: là truyện ngắn biểu cho phong cách nghệ thuật của Kim Lân.

– Khái quát nội dung tác phẩm: khắc họa tình cảnh người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng Tháng 8, đề cao vẻ đẹp trong hoàn cảnh khó khăn mà nổi bật là nhân vật vợ người vợ nhặt.

2. Thân bài

2.1 Tóm tắt nội dung

– Tái hiện khung cảnh nạn đói năm 1945 ở một xóm ngụ cư nghèo.

–  của những người dân nghèo trong nạn đói

+ Tràng: một người đàn ông vui vẻ chịu khó

+ Thị: người vợ nhặt đáng thương bên bờ vực thẳm.

+ Bà cụ: Tứ người mẹ già cả đời chịu bất hạnh rất mực thương con.

2.2 Phân tích người vợ nhặt

* Hoàn cảnh

– Là người tản cư sống bằng nghề nhặt đồ rơi vãi.

– Nghèo đói không tên tuổi, không quê quán, không gia đình.

– Là điển hình cho những con người bé nhỏ trong hoàn cảnh thảm khốc của đất nước.

*  Phân tích của người vợ nhặt.

– Gặp Tràng lần đầu tiên: tỏ ra kiêu ngạo trước lời trêu đùa của tràng.

– Lần thứ hai chủ động đến tìm Tràng: ăn nói thô lỗ vô duyên bắt Tràng mời bánh đúc ăn liền không nói câu gì.

– Chấp nhận lời yêu cầu vừa thật vừa đùa của Tràng theo không về làm vợ anh ta.

* Sự thay đổi khi làm vợ Tràng:

– Xấu hổ, e thẹn trước ánh mắt của mọi người xung quanh nhìn vào mình.

– Cư xử lễ phép, đúng mực với người mẹ chồng lần đầu tiên gặp mặt.

– Buổi sáng trong ngày đầu tiên làm dâu: hoàn cảnh nghèo khó thiếu thốn mọi bề, nhưng vẫn vui vẻ chia sẻ nghèo đói cùng gia đình nhà chồng.

– Cùng mẹ dọn dẹp nhà cửa vườn tược với mong muốn cuộc sống sẽ tốt hơn.

– Nói về chuyện kháng chiến về những người không chịu đóng thuế đi cướp kho thóc của Nhật :gieo vào đầu Tràng một hy vọng về cách mạng.

* Tổng kết về nhân vật người vợ nhặt :

-Vì muốn được sống mà không ngại bỏ đi của mình -thể hiện khao khát sống mãnh liệt.

– Vẫn giữ phẩm chất của người phụ nữ: lễ phép chịu khó, hết lòng vì gia đình trong mọi hoàn cảnh, đem đến niềm vui cho hai mẹ con Tràng  thắp lên ngọn lửa hạnh phúc của cả ba người.

Xem thêm:  Giải thích ý nghĩa nhan đề Số phận con người của Sô-lô-khốp

3. Kết bài

-Tổng kết nhân vật người vợ nhặt : tiêu biểu cho vẻ đẹp của người Việt Nam luôn khao khát sự sống và hạnh phúc. Mang  phẩm chất đẹp của người phụ nữ Việt Nam hết lòng vì chồng vì con.

– Nêu cảm nhận của bản về nhân vật người vợ nhặt: cảm thấy yêu mến kính trọng người phụ nữ Việt Nam, qua nhân vật ta thấy rõ tinh thần nhân đạo và tấm lòng yêu thương con người sâu sắc của tác giả.

phan tich nhan vat vo nhat - [Văn mẫu bất hủ] Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Phân tích nhân vật người vợ nhặt

Bài văn tham khảo

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện về người nông dân và làng quê Việt Nam- mảng đề tài mà từ lâu ông đã am hiểu sâu sắc. Vợ Nhặt là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và cũng là tác phẩm nổi bật của nền văn học Việt Nam sau năm 1945. Truyện được in trong tập “ xấu xí”( 1962) tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc thông qua tình huống “nhặt vợ” vừa ngồ ngộ vừa đầy thương cảm tác giả đã cho thấy được nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những con người trong nạn đói 1945 cũng như khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm của họ mà tiêu biểu phải kể đến là nhân vật người vợ nhặt- người phụ nữ đáng thương và đáng quý trọng.

 Lấy bối cảnh là nạn đói thảm khốc năm 1945, truyện ngắn đã khắc họa chân thực và rõ nét tình cảnh của người dân ở một xóm ngụ cư nghèo. Sự thiếu thốn cái ăn đã làm cho mọi người thê thảm, người di cư thì “ xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ.” Nhân vật chính trong tác phẩm là Tràng một chàng trai hiền lành tốt tính, anh làm nghề kéo thóc thuê, dù nghèo khó nhưng luôn vô tư vui vẻ. Mẹ anh, bà cụ Tứ cũng là một người tốt, bà đã thấu hiểu sự đời và rất mực thương con. Cuộc sống của hai mẹ con họ đã hoàn toàn thay đổi bởi sự xuất hiện của người vợ nhặt- một cô gái vì miếng ăn đã theo không người đàn ông vừa quen biết về làm vợ, không sính lễ cũng không cưới hỏi gì cả. “ Vợ nhặt” cái danh hiệu nghe vừa hài hước vừa chua xót. Nhưng ẩn trong thân phận rẻ rúng đáng thương đó là một phẩm chất, một nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ mà không gì có thể thiêu rụi được.

 Người vợ nhặt trong truyện ngắn không tên tuổi cụ thể, không gia đình không quê quán, không nhà cửa, không công việc, chị sống bằng việc nhặt đồ rơi vãi nhưng trong thời buổi khó khăn này công việc  đó loại càng ít gặp may hơn.  Tình cảnh nghèo khổ thiếu ăn từng ngày đã làm cho người phụ nữ vốn trong thời gian đẹp nhất của đời mình trở nên thô kệch, xấu xí. Người vợ nhặt không được nhắc tên là dụng ý của tác giả như chỉ chung cho số phận của những người phụ nữ thời bấy giờ: rẻ rúng không có chút giá trị nào như món đồ dễ dàng có thể nhặt được ở bất cứ đâu. Nhưng nhờ có tình huống nghiệt ngã đó mà tính cách và phẩm chất của nhân vật người vợ nhặt lại được bộc lộ một cách rõ nét và chân thực nhất.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Thiên trường vãn vọng của tác giả Trần Nhân Tông

 Người vợ nhặt và Tràng gặp nhau trong một lần cậu ta đẩy xe thóc thuê, với tính cách vui vẻ của mình anh đã mở lời trêu đùa mấy cô gái bên đường. Trước lời bông đùa đó thị tỏ ra kiêu ngạo không tin lời Tràng nói. Nhưng đến lần thứ hai gặp lại chị tỏ ra thô lỗ ,sưng sỉa trách móc Tràng.  Chị đã trông thảm hại hơn trước rất nhiều con người gầy rạc đi vì đói. Thị bắt  anh ta mời ăn và thị ăn một lúc 4 cái bánh đúc mà không nói năng gì với Tràng. Cơn đói đã làm cho người phụ nữ vốn hiền lành nết na trở lên vô duyên xấu xí. Trước hành động của  thị Tràng vẫn vô tư thoải mái và vừa thật vừa đùa anh đã mời cô về làm vợ của mình. Và cô ngay lập tức đồng ý, họ thành vợ chồng chỉ bốn bát bánh đúc và những và mấy câu chuyện trò.

 Trong thời buổi mà cái ăn là vấn đề đặt nặng lên từng ngày, sự sống không được đảm bảo thì việc cưới vợ gả chồng chẳng ai dám nghĩ đến. Nhưng chàng và thị đã cùng nhau vun vén hạnh phúc của mình. Họ đi về  nhà trước ánh mắt soi mói và sự trêu trọc của mọi người. Cô vợ nhặt đã tỏ ra vô cùng ngại ngùng và e thẹn khép nép đi theo sau Tràng.  Về đến nhà nhìn thấy cảnh tàn tạ của căn nhà tranh lụp xụp, ảm đảm. Cô nén tiếng thở dài thể hiện sự thất vọng nhưng cũng là lời chấp nhận đối với cuộc sống mới của mình. Gặp bà cụ Tứ  Thị tự nhiên lễ phép gọi mẹ chồng. Bà cụ Tứ tỏ ra bất ngờ nhưng bà đã hiểu ngay mọi chuyện sau đó, bà thấy thương cảm cho cô con dâu mới và chua xót trước cuộc đời mình.

 Đối với mỗi người phụ nữ hôn nhân là chuyện đại sự có ý nghĩa lớn nhưng đối với Thị nó đến tự nhiên nhẹ nhàng mà đầy bi thương.  Ngày đầu tiên làm dâu nhà chồng bữa cơm trong cảnh đói trông thật thảm hại và thiếu thốn nhưng họ vẫn ăn uống vui vẻ. Người vợ Nhặt không nói năng gì về cảnh khổ sở ở nhà mình và Tràng thì vừa  bối rối vừa vui mừng khi có vợ. Bà cụ Tứ trong bữa ăn kể toàn những chuyện vui về những điều tốt đẹp sẽ đến. Ba người đều vui vẻ bên nhau xây dựng gia đình.

 Buổi sáng sau ngày theo Tràng về làm vợ Thị đã  trở nên khác hẳn. Người phụ nữ vốn thô lỗ, cong cớn không màng đến lòng tự trọng trước kia đã trở nên dịu dàng đúng mực nàng dâu mới. Cô dậy sớm cùng mẹ chồng chuẩn bị cơm nước và quét dọn lại sân vườn với hi vọng nhà cửa thoáng đãng sạch sẽ thìcuộc sống cũng sẽ tốt hơn. Còn Tràng thì thấy có gì đó khác lạ, anh trưởng thành hơn nghĩ mình phải có trách nhiệm với vợ con và càng yêu càng gắn bó với mái ấm nhỏ của mình. Tình trạng đói kém không ngừng tồi tệ hơn. Cái đói vẫn hàng ngày cướp đi mạng sống của nhiều người. Tiếng  khóc hờ, tiếng quạ kêu, tiếng trống thúc thuế nghe thảm thiêt não lòng. Ba người trong cảnh đói cố ăn cho xong bữa cơm, họ không nói gì về chuyện bữa cơm thiếu thốn. Người vợ nhặt đã kể chuyện những người nông dân không chịu đóng thuế đi cướp kho thóc của Nhật để chia cho người  đói.  Nghe chuyện Tràng nảy sinh những ý nghĩ tươi sáng và hình ảnh lá cờ rất đẹp đã xuất hiện trong đầu anh, hé lộ con đường cách mạng anh sẽ bước đến.

Xem thêm:  Chứng minh nhận định về sức sống tiềm tàng bên trong con người Mị

 Người vợ nhặt là một phụ nữ đang bên bờ vực thẳm giữa sự sống và cái chết, trong tình huống đó, khát khao được sống đã khiến cô từ bỏ tất cả lòng tự trọng vốn có của mình để giàng lấy sự sống sẵn sàng về làm dâu vô điều kiện nhưng khi được sống cô không trở nên tha hóa mà những phẩm chất tốt đẹp vẫn luôn được giữ mãi dù trong hoàn cảnh nào. Với Tràng chị là người vợ dịu dàng, yêu thương và chăm sóc cho chồng, với bà cụ Tứ chị lại là một cô con dâu hiếu thảo, nhường nhịn lễ phép với mẹ chồng. Chị đã đen đến hạnh phúc mới, không khí mới cho ngôi nhà nhỏ vốn buồn thiu cô quạnh của mẹ con Tràng. Cả ba người với sự đồng cảm và tình thương yêu lẫn nhau đã cùng thắp lên ngọn lửa hạnh phúc đẹp đẽ.

 Bằng một tình huống truyện độc đáo hấp dẫn, cách miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, xây dựng đối thoại sinh động,  tác phẩm Vợ nhặt đã thể hiện nội dung nhân đạo sâu sắc. Tất cả các nhân vật đều có những phẩm chất cao đẹp toát lên trên chết cảnh bi thảm kinh khủng đang đến gần. Người vợ Nhặt tiêu biểu cho phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam vừa ham sống nhưng cũng vừa khao khát hạnh phúc mãnh liệt  trong cảnh đói nghèo. Kim Lân đã hóa thân vào nhân vật đã dành thương và niềm tin tưởng sâu sắc vào con người với bản năng sống mạnh mẽ cũng như những giá trị nhân cách cao đẹp ở họ.

Với tấm lòngnhân đạo cao cả và con người mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm,Vợ Nhặt sẽ mãi đi vào lòng người đọc và là một thiên truyện bất hủ của văn học Việt Nam trong thời kỳ gian khổ của đất nước. Người vợ nhặt sẽ mãi là hình ảnh đẹp còn đọng lại trong tâm trí người đọc mỗi khi nghĩ về người phụ nữ Việt Nam “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Nguyễn Thị Thiếp