Những bài văn hay lớp 11

[Văn mẫu bất hủ] Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao với viên quản ngục

[Văn mẫu bất hủ] thái độ của nhân vật Huấn Cao với viên quản ngục

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài.

  • Giới thiệu tác giả: là gương mặt tiêu biểu cho dòng lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
  • Có phong cách nghệ thuật độc đáo: chơi ‘’ngông’’ bằng văn chương.
  • Tạo ra diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật, tiêu biểu nhất là thái độ của Huấn Cao với viên quản ngục.

2. Thân bài.

2.1. Giới thiệu nhân vật Huấn Cao.

  • Nguyên mẫu: Là , lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình.
  • Giới thiệu tài năng của nhân vật Huấn Cao qua cuộc bàn luận giữa viên quản ngục và thầy thơ lại.

2.2. Thái độ của Huấn Cao với quản ngục khi mới vào tù.

  • rỗ gông, thái độ không thèm chấp trước lời dọa dẫm của tên lính áp giải.
  • Khi được quản ngục biệt đãi, ông vẫn giữ thái độ ung dung, thản nhiên nhận rượu thịt.
  • Khi chưa hiểu và chưa biết quản ngục, lúc trả lời với giọng khinh bạc đến điều: ’’ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng bao giờ đặt chân vào đây”. Bởi với Huấn Cao, quản ngục sống ở nơi tối tăm thì nhân cách sẽ bị hoen ố, và những người như thế không thể nào sẽ trân trọng cái tài cái đẹp được.

2.3. Khi hiểu quản ngục:

  • Huấn Cao thuận lòng cho chữ, tạo nên cảnh tượng đặc biệt ‘’cảnh tượng xưa nay chưa từng có’’ ở cả không gian và .
  • Sau khi nhận chữ, quản ngục còn lãnh từng lời khuyên, như lời di huấn của bậc hiền linh cao cả: ‘’Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời … Tôi bảo thực đấy: Thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi. Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau.’’
  • Đáp lại lời khuyên của Huấn Cao, quản ngục đã “vái người tù một vái, nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:” kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

3. Kết bài.

  • Khẳng định tài năng của Nguyễn Tuân: Nguyễn Tuân không chỉ tạo dựng nên chân dung sống động về Huấn Cao – một người nghệ sĩ mang khí phách anh hùng mà còn tạo dựng được không khí cổ xưa, của đất nước góp phần lưu giữ vẻ đẹp vang bóng một thời.
  • Những đóng góp to lớn cho nền văn học Việt Nam.
Xem thêm:  Bài viết số 5, lớp 7 đề 3: chứng minh câu tục ngữ

phan tich thai do nhan vat huan cao - [Văn mẫu bất hủ] Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao với viên quản ngục

Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao với viên quản ngục

Bài văn tham khảo

Nguyễn Tuân là gương mặt tiêu biểu cho dòng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Là một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo, chơi “ngông” bằng văn chương đã tạo ra được những tác phẩm có giá trị, là những “hạt bụi vàng” trong làng văn học. Đặc biệt là truyện ngắn “” với nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, sáng tạo là nhân vật Huấn Cao – người anh hùng tài hoa, khí phách, thiên lương trong sáng. Biệt tài của Nguyễn Tuân ở chỗ tạo ra diễn biến tâm lí phức tạp cho nhân vật, tiêu biểu nhất là thái độ của Huấn Cao với viên quản ngục đã tạo nên sức hấp dẫn cho thiên truyện.

Khi xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân dựa vào nhân vật lịch sử từng một thời vang bóng – Cao Bá Quát. Cao Bá Quát nổi danh là người văn hay chữ tốt, sống có , bản lĩnh. Là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình. Vì vậy Nguyễn Tuân lựa chọn đây là nguyên mẫu cho nhân vật của mình, hội tụ những phẩm chất với vẻ đẹp hoàn mĩ. Bằng bút pháp hóa, Nguyễn Tuân đã khiến vẻ đẹp của Huấn Cao được nâng lên ở mức siêu phàm. Tài viết chữ đẹp của người tử tù được giới thiệu trực tiếp qua cuộc nói chuyện giữa viên quản ngục và thầy thơ lại “ Huấn Cao! Hay là người tỉnh Sơn ta vẫn ca ngợi cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không.Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm“. Chữ ông Huấn viết là chữ Hán, loại văn tự giàu tính tạo hình, các nhà Nho xưa viết chữ để bộc lộ cái chí của mình. Tạo thành bộ môn nghệ thuật thư pháp. Người ta thường treo chữ đẹp ở nơi trang trọng quanh nhà. Chữ ông Huấn Cao quý giá bởi nó kết tụ tinh hoa tâm huyết của người cầm bút bởi “Những nét chữ vuông vắn, tươi tắn nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời người” bởi vậy sở nguyện của quản ngục là được treo ở nhà mình một đôi câu đối do ông Huấn Cao viết, có được chữ ông Huấn như có được báu vật trên đời.

Huấn Cao là lãnh tụ của phong trào nông dân chống lại triều đình mà ông căm ghét và khinh bỉ. Dù chí lớn không thành nhưng tư thế luôn hiên ngang, bất khuất. Khi bị dẫn vào ngục tù, ông không hề run sợ trước những kẻ nắm giữ vận mệnh của mình. Đặc biệt là hành động rỗ gông, thái độ không thèm chấp trước lời dọa dẫm của tên lính áp giải: “Các người chả phải “. Nhưng Huấn Cao vẫn xuất hiện trước ngục tù với tư thế hiên ngang “Huấn Cao xuất hiện trước cửa ngục “. Đó là hiện thân về quyền lực, sức mạnh của giai cấp thống trị. Nó hiện ra cảnh tù tội và mất tự do. Luôn là người giữ thái độ lạnh lùng, không thèm chấp trước những lời dọa dẫm “ Huấn Cao chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh khuỳnh một cái”. Hành động ấy giống như của một người đang sống tự do chứ không phải của một người tù. Không những vậy, khi được quản ngục biệt đãi ông vẫn giữ thái độ điềm nhiên, thản nhiên nhận rượu thịt như việc vẫn làm trong hứng bình sinh. Đặc biệt, khi quản ngục hỏi Huấn Cao, ông trả lời bằng giọng khinh bạc “ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng bao giờ đặt chân vào đây”. Cách trả lời ấy thể hiện rằng ông không hề khuất phục, quỵ lụy trước thần quyền bởi với ông “đến cảnh chết chém ông còn chẳng  sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này”. Khi biết tin ngày mai phải ra kinh lãnh án tử hình, ông chỉ lặng nghĩ rồi mỉm cười, đó là tinh thần “uy vũ bất nam khuất” của người anh hùng.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương để làm nổi bật tâm sự mang nỗi niềm thế sự của tác giả

Khi chưa hiểu quản ngục, Huấn Cao xưng hô với một cách khinh tthường. Bởi quản ngục là viên cai ngục trong nhà tù, sống ở nơi toàn những ”kẻ tiểu nhân thị oai “ thì nhân cách ít nhiều cũng bị hoen ố, ở nơi chỉ tồn tại cái xấu cái ác. Và chính nơi ngục tù này lại là nơi xuất hiện cuộc gặp gỡ đầy éo le, ngang trái giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Nhưng khi hiểu tấm lòng biệt nhưỡng liên tài của quản ngục thì Huấn Cao thuận lòng cho chữ: “Về bảo với chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ. Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đi phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Cảnh tượng ấy diễn ra trong không gian thật đặc biệt: nơi ngục tù ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Thời gian lại là ban đêm, khi chỉ sớm mai thôi ông Huấn phải ra kinh lãnh án tử hình. Nơi đây đã diễn ra cuộc đổi ngôi thật kì diệu mà tác giả của cuộc đổi ngôi ấy chính là cái đẹp, bởi “cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Đây chính là hành động đền đáp một tấm lòng trong thiên hạ. Điều mà Huấn Cao sợ nhất chính là “ phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ “. Như vậy, vẻ đẹp của người nghệ sĩ là sự kết tinh giữa cái tài, cái tâm và thiên lương trong sáng. Không chỉ nhận những dòng chữ của Huấn Cao mà viên quản ngục còn nhận lời khuyên của Huấn Cao như lãnh từng lời di huấn của bậc hiền linh cao cả:” Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người… Tôi bảo thực đấy: Thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi. Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau.’’. Đáp lại lời khuyên của Huấn Cao, quản ngục đã “vái người tù một vái, nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:” kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

Xem thêm:  Phân tích chất thơ tình yêu trong tác phẩm của Xuân Diệu

Bằng ngòi bút lí tưởng hóa, Nguyễn Tuân đã xây dựng nhân vật quản ngục là những người tri âm, tri kỉ với Huấn Cao. Quản ngục hoàn toàn đối lập với cái tàn nhẫn và lừa lọc. Ông chính là “ một thanh âm trong trẻo chen vào giữa bản đàn mà mọi nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”. Dựng cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân phát huy triệt để sức mạnh của ngòi bút lãng mạn. Bằng cây bút’’ra hoa’’ mà người nghệ sĩ ấy đã tạo nên một cảnh tượng cho chữ ‘’cảnh tượng xưa nay chưa từng có’’. Với ngôn ngữ trang trọng, khi sử dụng nhiều từ Hán Việt, tạo âm hưởng thật cổ kính và thiêng liêng. Sử dụng nghệ thuật tương phản, đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, cái đẹp với cái xấu,.. Mỗi nét chữ như một nhát khắc của người nghệ sĩ tạo hình làm cho các hình tượng như chạm nổi, như hình khối hằn lên trên bề mặt chữ nghĩa. Là một người tài hoa, uyên bác, am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã tạo ra cảnh cho chữ như một thước quay chậm. Tất cả đều mang đến một vẻ đẹp kì diệu và sức hấp dẫn đối với thiên truyện. Không những vậy, nhà văn còn để cho nhân vật tự nhận thức,giác ngộ được hoàn cảnh của mình. Chính khi ấy quản ngục đã ý thức mình chọn nhầm nghề bởi vậy khi đối diện với Huấn Cao, quản ngục trở nên khép nép hơn. Dòng nước mắt của ông khi nhận lời khuyên của Huấn Cao là cúi đầu trước cái đẹp, thiên lương cao cả. Dường như ông đã bị khuất phục, cảm hóa trước cái tài, đẹp của Huấn Cao. Hai người họ thực sự đã trở thành tri âm, tri kỉ của nhau. Cũng như Victor Huygo đã từng nói: “Trước một trí tuệ vĩ đại tôi cúi đầu, trước một trái tim vĩ đại tôi quỳ gối “.

‘’Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông phèng, khi thì thánh thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa”.Nguyễn Tuân không chỉ tạo dựng nên chân dung sống động về Huấn Cao – một người nghệ sĩ mang khí phách anh hùng mà còn tạo dựng được không khí cổ xưa, của đất nước góp phần lưu giữ vẻ đẹp vang bóng một thời cho muôn đời. Từ đó bộc lộ niềm trân trọng đối với giá trị văn hóa cổ truyền. Nguyễn Tuân đã bước vào làng văn với ‘’tiếng nói riêng của mình mà không tìm thấy trong cổ họng của bất kì ai’’ và đã có những đóng góp to lớn trong kho tàng văn học Việt Nam.